| Giôn G. Leik - con người của sự chữa lành |
| Viết bởi Administrator | |||||
| Thứ hai, 03 Tháng 8 2009 04:51 | |||||
|
JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL Ro-berts Liar-don
"Tôi nói với họ (các bác sĩ): 'Thưa các ngài, tôi muốn để các ngài nhìn thấy một điều nữa. Hãy về bệnh viện của mình và chở đến đây một người bị bệnh viêm tuỷ. Hãy lấy những dụng cụ của mình và gắn chúng vào chân. Hãy chừa chỗ cho tôi có thể đặt tay lên chân anh ta. Các ông có thể gắn dụng cụ vào cả hai bên.' Khi những dụng cụ đo đạc đã sẵn sàng, tôi đặt tay lên đầu gối người này và cầu nguyện bằng một cách giống như cách Mẹ Et-ter cầu nguyện [mẹ Et-ter là một tướng lĩnh của Đức Chúa Trời đi trước - BBT]: không phải là lời cầu nguyện lạnh nhạt bình thường, nhưng là tiếng kêu thống thiết của con tim lên Đức Chúa Trời. Tôi nói: 'Chúa ơi, hãy diệt chết căn bệnh của ma quỉ bằng quyền năng Ngài. để cho Đức Thánh Linh vận hành trong anh ta, để cho cái này sống trong anh ta." Sau đó tôi hỏi: 'Thưa các ngài, điều gì đã xảy ra vậy?' Họ đáp: 'mọi tế bào đều phản ứng'. Nếu có con người nào từng sống và hành động trong sự tỏ ra "Đức Chúa Trời ở trong con người", thì con người đó chính là Giôn G. Leik ( Ông thường nói rằng bí quyết của quyền năng thiên thượng không phải ở tại việc làm, mà là ở hiện trạng. Ông tin rằng mọi cơ-đốc nhân đầy dẫy Đức Thánh Linh cần phải được thưởng thức (tận hưởng) một công vụ hệt như của Chúa Jê-sus khi Ngài sống trên đất, và hiện thực của sự đó có thể đạt được chỉ khi nào nhìn thấy được bản thân như cách Đức Chúa Trời nhìn. Bóng đen của cái chết Giôn Grêm Leik đã sống cả cuộc đời mình và hoàn thành công vụ của mình với sự hiểu biết thuộc linh đó. Ông sinh ra 18 tháng ba năm 1870 tại Lần đầu tiên Leik được nghe giảng Tin lành tại buổi nhóm truyền giảng của Đạo quân Cứu rỗi (The Salvation Army - một tổ chức truyền giáo - BBT), khi ông mười sáu tuổi, và không lâu sau đó ông đã dâng đời sống mình cho Chúa. Mặc dù ông sống cuộc sống đạo đức lành mạnh, tim ông không thấy bình an, cho đến khi ông xin Chúa cứu ông. Sau này ông viết về cuộc gặp với Đức Chúa Trời của mình: "Tôi đã dâng mình cho Ngài, ánh sáng từ trời tuôn tràn vào lòng tôi, và tôi đứng dậy thành một đứa con của Đức Chúa Trời, và tôi biết điều đó." Bố mẹ của Leik là những con người mạnh mẽ, năng động với sức khoẻ tuyệt vời. Nhưng tà linh của bệnh tật và cái chết bao trùm lên toàn bộ phần còn lại của gia đình. Tám thành viên trong gia đình - bốn anh em trai và bốn chị em gái - đã chết vì bệnh. "32 năm trong gia đình thường xuyên có người ốm," - ông viết, - "Trong suốt thời gian đó bóng đen của bệnh tật luôn ám ảnh trên nhà chúng tôi... thời niên thiếu của tôi đầy ký ức về những bệnh tật, bác sĩ, người trông, bệnh viện, hòm áo quan, nghĩa trang và nấm mộ, về một gia đình đau đớn..." Khoa học không đúng - Thái độ đúng đắn Ngay từ khi còn trẻ Leik đã rất quan tâm đến khoa học và vật lý. Ông cũng thích hoá học, và thích làm thí nghiệm với các dụng cụ khoa học. Ông thậm chí đã kết thúc khoá học về ngành y, nhưng về sau bỏ những ham mê y học của mình. Leik rất kỹ lưỡng trong các sự tìm kiếm cả trong khoa học và những vấn đề thuộc linh. Ông không ngừng nghiên cứu Kinh Thánh không chỉ để mà hiểu nó, mà còn để chứng minh sự chính xác của nó trong cuộc sống hàng ngày. Kết quả là Leik hành động, nói và thở trong luồng của sự sống phục sinh của Đức Chúa Trời. Năm 1890, khi Leik 20 tuổi, một nông dân cơ-đốc nhân kể cho ông nghe về sự nên thánh. Sự tỏ ra này đã xuyên thấu tim ông, và ông coi đó như một công việc đã hoàn tất của Đức Chúa Trời trong đời mình. Về sự tỏ ra mới này Leik viết: "Tôi sẽ không bao giờ ngừng tôn vinh Chúa đã tỏ cho tôi chiều sâu... quyền năng của huyết Jê-sus. Sự xức dầu Thánh Linh tuyệt vời đã giáng xuống đời tôi." Sau đó một năm, 1891, Leik chuyển đến Chi-ca-go và nhập học tại trường hầu việc giám lý. Tháng mười năm đó ông được bổ nhiệm vào Hội Thánh tại Pes-ti-go, bang Vis-con-xin nhưng ông từ chối đề nghị làm mục sư này. Ông cũng rời trường và chuyển đến Har-vey, bang Il-li-nois, là nơi ông lập tờ báo "Har-vey ci-ti-zen". Khi sống tại đó ông đã gặp người vợ tương lai của mình là Giên-ny Sti-ven. Món quà "Giên-ny" Giên-ny hợp với Giôn Leik thật lý tưởng. Chị rất biết vui đùa, suy nghĩ chín chắn, đức tin mạnh mẽ và sự nhạy bén thuộc linh sâu sắc. Một trong những sự phục vụ quan trọng của Giên-ny cho chồng mình là sự cầu nguyện và cầu thay. Leik đánh giá rất cao những lời khuyên và sự động viên của vợ. Nhưng sau đó hai năm bệnh tật lại lẻn được vào gia đình Leik. Các bác sĩ chẩn đoán Giên-ny bị lao và đau tim. Vì cớ rối loạn nhịp tim mà có khi chị ngã bất tỉnh. Để giữ nhịp tim, chị phải dùng những thuốc mạnh, và cuối cùng chúng khiến chị gần thành người tàn phế. Cuối cùng, theo lời khuyên của các bác sĩ, Leik đưa gia đình mình trở về lại Solt-Sant-Mari, bang Mi-chi-gan, và anh bắt đầu làm nghề buôn bất động sản. Nhưng trạng thái của Giên-ny ngày một xấu đi, và năm 1898 các bác sĩ nói rằng không còn làm gì được hơn cho chị nữa. Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
Bài Hầu việc Chúa mới đọc nhiều
Suy ngẫm hàng ngày
|
Thi thiên 1:1-3 |
| Read more text |










Comments
David Brainerd sinh tại Haddam, tiểu bang Conneticut, ngày 20 – 4 – 1718. Cha của ông là Hezekiah Brainerd, qua đời khi ông mới 9 tuổi, và mẹ ông là con gái của Mục sư Jeremiah Hobart, qua đời khi ông mới 14 tuổi. Ông là con trai thứ ba trong một gia đình có năm con trai và bốn con gái.
Cái chết của Cha và Mẹ của Brainerd để lại cho ông nhiều buồn phiền, ông không còn ham chơi mà thường xuyên lo lắng về linh hồn mình. Tâm hồn ông luôn khắc khoải, mặc cảm tội lỗi mỗi lần đi chơi với bạn bè. Sau khi mẹ ông mất, ông đến East Haddam ở tại nhà một người chị. Năm 1739, ông tin nhận Chúa và cũng trong năm này ông vào học Trường đại học Yale nổi tiếng. Tháng 6 năm 1740, ông thực sự kinh nghiệm được ơn phước lạ lùng của Đức Chúa Trời, con đường cứu rỗi mở rộng trước mặt ông. Lúc đó sức khỏe ông suy giảm nhiều do yếu sức, bị bệnh lao và học hành quá chuyên cần.
Cũng trong ảnh hưởng Cuộc đại thức tỉnh năm 1740, David Brainerd và nhiều sinh viên của Đại học Yale rất lo lắng cho sự cứu rỗi đời của mình, họ đã được thay đổi đời sống, trở nên đứng đắn, mẫu mực sau khi tin Chúa. Các sinh viên chịu ảnh hưởng bởi George Whitefield, Gilbert Tennet, Ebenezer Pemberton, James Davenport và Jonathan Edward rất nhiều. Tháng 2 năm 1741, David Brainerd bất thình lình bị đuổi học vì một câu nói bất cẩn. Sự kiện này đã để lại trong ông nhiều buồn bã, thất vọng. Sự nổi tiếng về sau của Brainerd đã khiến cho sự kiện này trở nên một tì vít của Đại học Yale, mà chẳng bao giờ bôi xóa được ...
David Brainerd phải vượt qua “Ghết sê ma nê” của chính mình. Năm 1472, Brainerd hợp tác với một nhóm truyền đạo gọi là “New Lights”, ông được Jonathan Dickinson, lãnh đạo của giáo hội Presbyterian ở New Jersey quan tâm, kết quả ông gia nhập Society in Scotland for Propagating Christian Knowledge và được chấp
thuận cho công tác truyền giáo ngày 25 tháng 11 năm 1742.
Năm 1743, Brainerd hầu việc Chúa tại một nhà thờ trên đảo Long Island, sau đó ông truyền giáo cho các bộ lạc Da Đỏ tại Kaunameek, gần Nassau ngày nay, thậm chí ông phải ngủ trên một đống rơm ! Ông tiếp tục công việc ở Stockbridge, Brainerd ở lại đó một năm. Trong thời gian này ông bắt tay vào một bản dịch Kinh thánh - các sách Văn Thơ ra tiếng bản xứ. Kế đó ông rao giảng cho các bộ lạc Da Đỏ dọc theo sông Delaware phía đông bắc Bethlehem, thuộc tiểu bang Pennsylvania. Tại đây ông được thụ phong chức Mục sư bởi Giáo hội Trưởng lão.
Sau đó, Brainerd chuyển đến Crossweeksung ở tiểu bang New Jersey là nơi mà công tác truyền giảng có nhiều kết quả, trong vòng một năm Hội thánh người Da Đỏ tại Crossweeksung có 130 tín hữu, sau đó họ di chuyển đến Cranbury để thành lập một cộng đồng Cơ đốc giáo của người Da Đỏ. Trong lúc đó, Brainerd vẫn luôn từ chối lời mời gọi làm Mục sư từ hai nhà thờ ở Millinton và East Hampton tại Long Island, là những thị trấn đẹp nhất trong một giáo khu đông đúc giàu có nhất. Millinton còn ở gần quê hương ông, gần các tín đồ và bạn hữu của ông. Tuy nhiên Brainerd vẫn xác định mục tiêu truyền giáo cho các thổ dân tại châu Mỹ bất chấp những khó khăn, ông viết trong nhật ký của mình như sau:
“Thứ bảy, 30 – 4 – 1743. Tôi ở trong đồng vắng hiu quạnh, buồn tẻ hơn hết cách tiểu bang Albany chừng 18 dặm. Tôi ở trọ một nhà người Tô cách lan nghèo, vợ anh chỉ nói bập bẹ vài ba tiếng Anh. Món ăn của tôi phần nhiều là bánh thập cẩm làm vội, lúa mì nấu chín, bánh mì hấp trong tro, thỉnh thoảng có một ít thịt và bơ. Tôi ngủ trên đống rơm, dưới lót mấy tấm ván, cách mặt đất không bao nhiêu, phòng tôi ở làm bằng gỗ không có lót sàn ... Tôi làm công việc nhọc nhằn và khó khăn quá bội; hầu hết mỗi ngày phải đi bộ vừa đi vừa về hết 30 km trên những con đường khúc khuỷu, ấy vì tôi ở xa người Da Đỏ. Suốt tháng này tôi chưa thấy một người Anh nào. Những tình cảnh này và tình cảnh khác cũng khó chịu như vậy, luôn luôn xảy đến cho tôi. Nguyện Chúa giúp tôi học tập “chịu khổ như một người lính giỏi của Đức Chúa Jesus Christ” (II Tim 2: 3) !
Dù thân thể yếu đuối, bệnh tật nhưng Brainerd mỗi ngày thường cưỡi ngựa đi truyền giảng, thăm viếng các bộ lạc, các điểm nhóm của người Da Đỏ. Ông rất đau lòng mỗi khi thấy họ còn hội họp thờ lạy hình tượng và nhảy múa. Ông rất nặng lòng, thường cầu nguyện trong rừng, cưỡi ngựa băng qua sa mạc, trải qua những vùng đất hiểm trở, núi cao chót vót, thung lũng sâu thăm thẳm và những ghềnh đá ghê rợn ... Trong một chuyến đi, ông kể lại: “Gần tối, con ngựa tôi cưỡi vấp phải vầng đá và té nhào nhưng nhờ ơn Đức Chúa Trời tôi không bị thương. Tuy nhiên con ngựa bị gãy chân, ở một nơi quạnh hiu như vậy, cách khu nhà dân khoảng 50 km, tôi thấy rằng không thể làm chi để cứu sống nó, vậy tôi bắt buộc phải bỏ nó và đi bộ ... đến tối, tôi đốt lửa, cắt một vài cây nhỏ làm mái che trên đầu cho khỏi sương vì đêm đó sương xuống rất nhiều. Đoạn tôi cầu nguyện phó thác mình cho Đức Chúa Trời, rồi nằm xuống đất mà ngủ bình an ...”
Nhiều lần Brainerd đối diện với hiểm nguy, bị đi lạc trong sa mạc, trên núi, bãi bùn lầy ... Nhưng lòng sốt sắng vì những người Da Đỏ chưa được cứu đã thôi thúc ông tiến lên ! Ngày 8 – 8 – 1745, cuộc thức tỉnh giữa vòng người Da Đỏ đã đến ... những thính giả của ông đã khóc lóc, kêu la cùng Chúa, lửa Thánh Linh đã giáng xuống trên họ, rất nhiều người được cứu. Brainerd tiếp tục giảng và lan tràn cuộc phục hưng giữa các bộ lạc cho dù sức khỏe ông càng yếu đi ...
Tháng 4 năm 1747, sức khỏe ông trở nên tệ hại do chứng lao phổi kinh niên nhưng tâm linh ông vẫn bùng cháy, tháng 5 ông vẫn cố gắng cưỡi ngựa đi 40 km để thăm tín hữu. Tháng 6 sức khỏe ông yếu dần và tịnh dưỡng ở Boston, ông luôn trò chuyện với những người thân của mình đặc biệt là Jerusba ái nữ của Jonathan Edwards. Ngày thứ sáu, 9 – 10 – 1747, David Brainerd đã ra đi gặp Chúa, hưởng dương 29 tuổi. Một năm sau Jerusba người yêu của ông cũng qua đời và được chôn bên cạnh ông ...
Dù chỉ sống có 29 năm với một thân thể yếu đuối nhưng David Brainerd đã làm việc nhiều hơn phần đông người sống tới 70 tuổi. Đã hơn hai trăm năm trôi qua, ông cùng các thánh tại thế giới bên kia vẫn sống – sống trong tấm lòng và đời sống của những người như ông, đã “Nghe Tiếng Kêu Gọi” và bỏ hết mọi sự đi theo Chúa.
Joseph
RSS feed for comments to this post